TALEVA 100MG RELIV 3X10
Thuốc Taleva được chỉ định để điều trị nhiễm nấm Candida âm đạo - âm hộ, nhiễm nấm ngoài da, lang ben, nhiễm Candida ở miệng, viêm giác mạc mắt do nấm, nấm móng do Dermatophyte và/hoặc nấm men, nấm toàn thân.
Thuốc kê đơn chỉ bán khi có đơn của bác sĩ. Gửi ảnh đơn thuốc hoặc hỏi dược sĩ để được tư vấn và báo giá.
- Giao qua Viettel Post sau khi dược sĩ gọi xác nhận
Miễn phí trong 20km cho đơn từ 300.000đ, nơi khác tính theo phí Viettel Post. - Cần hỏi về sản phẩm này?
Hỏi dược sĩ, miễn phí - Thuốc đã bán không đổi trả, trừ khi giao sai, hàng hỏng hoặc hết hạn.
Thành phần
| Thành phần | Hàm lượng |
|---|---|
| Itraconazol | 100mg |
Công dụng
Chỉ định
Thuốc Taleva được chỉ định để điều trị các bệnh sau:
Phụ khoa:
- Nhiễm nấm Candida âm đạo – âm hộ.
Ngoài da/nhiễm mạc/nhãn khoa:
- Nhiễm nấm ngoài da.
- Lang ben.
- Nhiễm Candida ở miệng.
- Viêm giác mạc mắt do nấm.
Nấm móng do Dermatophyte và/hoặc nấm men.
Nấm toàn thân:
- Nhiễm nấm toàn thân do Aspergillus và Candida.
- Nhiễm Cryptococcus (kể cả viêm màng não do Cryptococcus): Ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch bị nhiễm Cryptococcus và tất cả bệnh nhân nhiễm Cryptococcus ở hệ thần kinh trung ương, chỉ sử dụng thuốc này khi liệu pháp ban đầu tỏ ra không phù hợp hoặc được chứng minh không hiệu quả.
- Nhiễm nấm Histoplasma.
- Nhiễm nấm Blastomyces.
- Nhiễm nấm Sporothrix.
- Nhiễm nấm Paracoccidioides.
- Các nhiễm nấm toàn thân hoặc nhiễm nấm vùng nhiệt đới hiếm gặp khác.
Dược lực học
Nhóm điều trị: Thuốc chống nấm dùng đường toàn thân, dẫn xuất triazole.
Mã ATC: J02AC02.
Cơ chế tác dụng
Các nghiên cứu in vitro cho thấy itraconazole làm giảm tổng hợp ergosterol màng tế bào vi nấm. Ergosterol là một thành phần thiết yếu của màng tế bào vi nấm. Sự suy giảm tổng hợp này tạo nên hiệu quả kháng nấm.
Mối quan hệ Dược động học (PK)/Dược lực học (PD)
Mối quan hệ PK/PD của itraconazole và của nhóm các triazole nói chung ít được hiểu rõ.
Dược lực học
Vi sinh
Itraconazole, một dẫn xuất triazole, có phổ kháng nấm rộng.
Đối với itraconazole, điểm thiết lập độ nhạy với thuốc (breakpoint) chỉ được thiết lập cho Candida spp. từ các loại nhiễm nấm nông (CLSI M27-A2). Điểm breakpoint theo CLSI như sau: Nhạy cảm ≤ 0,125; nhạy cảm phụ thuộc liều 0,25 - 0,5 và đề kháng ≥ 1 mcg/mL. Các điểm breakpoint có thể diễn dịch đã không được thiết lập theo CLSI cho nấm sợi.
Điểm breakpoint theo EUCAST cho itraconazole đã được thiết lập cho Aspergillus flavus, A. flavus, A. fumigatus, A. nidulans và A. terreus như sau: Nhạy cảm ≤ 1 mg/L, đề kháng > 2 mg/L. Điểm breakpoint theo EUCAST chưa được thiết lập cho itraconazole và Candida spp.
Các nghiên cứu in vitro cho thấy rằng itraconazole ức chế sự phát triển của nhiều loại vi nấm gây bệnh cho người ở nồng độ thông thường ≤ 1 mcg/mL. Các vi nấm này bao gồm: Candida spp. (bao gồm Candida albicans, Candida tropicalis, Candida parapsilosis và Candida dubliniensis), Aspergillus spp., Blastomyces dermatitidis, Cladosporium spp., Coccidioides immitis, Cryptococcus neoformans, Geotrichum spp., Histoplasma spp. bao gồm H. capsulatum, Paracoccidioides brasiliensis, Penicillium marneffei, Sporothrix schenckii và Trichosporon spp.
Trong thử nghiệm in vitro, itraconazole cũng có hoạt tính đối với Epidermophyton floccosum, Fonsecaea spp., Malassezia spp., Microsporum spp., Pseudallescheria boydii, Trichophyton spp. và các loại nấm men và vi nấm khác.
Candida krusei, Candida glabrata và Candida guilliermondii thường là các chủng Candida kém nhạy cảm nhất, ở vài thử nghiệm phân lập in vitro cho thấy chúng đề kháng không rõ rệt với itraconazole.
Các loại vi nấm chính không bị ức chế với itraconazole là Zygomycetes (như Rhizopus spp., Rhizomucor spp., Mucor spp. và Absidia spp.), Fusarium spp., Scedosporium spp. và Scopulariopsis spp.
Sự đề kháng azol có vẻ hình thành chậm và thường là kết quả của vài đột biến gen. Các cơ chế được mô tả như là sự biểu hiện quá mức của ERG11 làm mã hóa gen đích 14α-demethylase, đột biến điểm trong ERG11 dẫn đến sự giảm ái lực đích và/hoặc sự biểu hiện quá mức của chất vận chuyển dẫn đến tăng bơm ra ngoài. Đề kháng chéo giữa các azol đã được quan sát thấy ở Candida spp., mặc dù sự đề kháng của 1 thuốc trong nhóm không nhất thiết có ý nghĩa là đề kháng với các azol khác. Chủng nấm Aspergillus fumigatus đã được báo cáo có đề kháng với itraconazole.
Dược động học
Nồng độ đỉnh trong huyết tương của itraconazole đạt được trong khoảng 2 đến 5 giờ sau khi uống. Do đặc tính dược động học không tuyến tính, itraconazole tích lũy trong huyết tương khi sử dụng đa liều. Nhìn chung, nồng độ trong trạng thái hằng định đạt được khoảng 15 ngày, với giá trị Cmax 0,05 mcg/mL; 1,1 mcg/mL và 2,0 mcg/mL tương ứng với liều 100 mg và 200 mg x 2 lần/ngày. Thời gian bán hủy cuối của itraconazole thường trong khoảng 16 đến 28 giờ sau khi sử dụng đơn liều và tăng lên 34 đến 42 giờ sau khi sử dụng liều lặp lại. Ngay khi ngừng điều trị, nồng độ itraconazole trong huyết tương giảm xuống đến nồng độ hầu như không còn phát hiện được trong 7 đến 14 ngày, tùy thuộc vào liều và thời gian điều trị. Tổng độ thanh thải trung bình trong huyết tương của itraconazole sau khi dùng đường tĩnh mạch là 278 mL/phút. Độ thanh thải của itraconazole giảm ở liều cao hơn vì chuyển hóa ở gan có thể bị bão hòa.
Hấp thu
Itraconazole được hấp thu nhanh sau khi uống. Nồng độ đỉnh trong huyết tương của thuốc không biến đổi đạt được trong vòng 2 đến 5 giờ sau uống 1 viên nang. Sinh khả dụng tuyệt đối của itraconazole khoảng 55%, sinh khả dụng đường uống đạt tối đa khi viên nang được uống ngay sau khi ăn no.
Sự hấp thu của viên nang itraconazole giảm ở những bệnh nhân giảm acid dịch vị, như những bệnh nhân uống những thuốc đã biết ức chế tiết acid dịch vị (như thuốc đối kháng thụ thể H2, ức chế bơm proton) hoặc những bệnh nhân thiếu acid dịch vị do một số bệnh. Hấp thu của itraconazole khi đói ở những bệnh nhân này tăng lên khi uống itraconazole cùng với đồ uống có tính acid (như là nước uống giải khát cola). Khi uống viên nang itraconazole với liều đơn 200 mg lúc đói với nước giải khát cola sau khi điều trị bằng ranitidin, một chất đối kháng thụ thể H2, sự hấp thu của itraconazole tương đương khi uống một mình itraconazole.
Nồng độ itraconazole trong máu là thấp đối với dạng viên nang so với dạng dung dịch uống khi dùng cùng mức liều.
Phân bố
Hầu hết itraconazole kết hợp với protein huyết tương (99,8%), chủ yếu là với albumin (99,6% ở dạng chất chuyển hóa hydroxy). Nó có ái lực mạnh với lipid. Chỉ 0,2% itraconazole trong huyết tương tồn tại dưới dạng thuốc tự do. Itraconazole được phân bố khắp toàn bộ cơ thể (> 700 L) cho thấy khả năng phân bố rộng rãi đến các mô. Nồng độ ở phổi, thận, gan, xương, dạ dày, lách và cơ cao gấp 2 đến 3 lần nồng độ ở huyết tương và gấp 4 lần phân bố ở mỡ và đặc biệt ở da. Nồng độ trong dịch não tủy thấp hơn nhiều so với trong huyết tương, nhưng đã được chứng minh có hiệu quả chống nhiễm khuẩn ở dịch não tủy.
Chuyển hóa
Itraconazole được chuyển hóa mạnh mẽ ở gan thành nhiều chất chuyển hóa. Các nghiên cứu in vitro đã cho thấy CYP3A4 là enzym chuyển hóa chính có liên quan đến sự chuyển hóa của itraconazole. Chất chuyển hóa chính là hydroxy-itraconazole hoạt tính chống nấm in vitro tương đương itraconazole, nồng độ đáy của chất chuyển hóa này trong huyết tương gấp 2 lần itraconazole.
Thải trừ
Itraconazole được thải trừ chủ yếu dưới dạng chất chuyển hóa không hoạt tính trong nước tiểu (35%) và phân (54%) trong vòng một tuần sau khi uống một liều dung dịch. Sự thải trừ qua thận của itraconazole và chất chuyển hóa có hoạt tính hydroxy-itraconazole thấp hơn 1% so với dùng đường tĩnh mạch. Dựa trên một liều thuốc đánh dấu phóng xạ đường uống; sự thải trừ qua phân của thuốc không chuyển hóa khoảng 3% đến 18% liều dùng.
Sự tái phân phối của itraconazole từ tổ chức sừng là không đáng kể, sự thải trừ của itraconazole từ tổ chức này liên quan đến sự tái sinh của biểu bì. Ngược lại với huyết tương, nồng độ thuốc tồn tại ở da khoảng 2 đến 4 tuần sau khi kết thúc liệu trình điều trị 4 tuần và ở tổ chức sừng của móng, nơi mà itraconazole có thể phát hiện rất sớm chỉ 1 tuần sau khi bắt đầu điều trị, nồng độ thuốc tồn tại thêm ít nhất là 6 tháng sau khi kết thúc liệu trình điều trị 3 tháng.
Cách dùng
Cách dùng
Uống ngay sau khi ăn no để đạt được hấp thu tối đa.
Phải nuốt cả viên nang.
Liều dùng
Phụ khoa
| Chỉ định | Liều | Thời gian điều trị |
|---|---|---|
| Nhiễm nấm Candida âm đạo – âm hộ | 200 mg, 2 lần/ngày hoặc 200 mg, 1 lần/ngày | 1 ngày hoặc 3 ngày |
Ngoài da/nhiễm mạc/nhãn khoa
| Chỉ định | Liều | Thời gian điều trị |
|---|---|---|
| Nhiễm nấm ngoài da | 200 mg, 1 lần/ngày hoặc 100 mg, 1 lần/ngày | 7 ngày hoặc 15 ngày |
| Các vùng sừng hóa cao như nhiễm nấm ở lòng bàn chân và lòng bàn tay | 200 mg, 1 lần/ngày hoặc 100 mg, 1 lần/ngày | 7 ngày hoặc 30 ngày |
| Lang ben | 200 mg, 1 lần/ngày | 7 ngày |
| Nhiễm Candida ở miệng | 100 mg, 1 lần/ngày | 15 ngày |
Ở một số bệnh nhân suy giảm miễn dịch (như giảm bạch cầu trung tính, bệnh nhân AIDS hoặc bệnh nhân ghép tạng), sinh khả dụng đường uống của itraconazole có thể bị giảm. Vì vậy cần tăng gấp đôi liều dùng.
| Chỉ định | Liều | Thời gian điều trị |
|---|---|---|
| Viêm giác mạc mắt do nấm | 200 mg, 1 lần/ngày | 21 ngày |
Nên điều chỉnh thời gian điều trị theo đáp ứng lâm sàng.
Nấm móng do Dermatophyte và/hoặc nấm men
Nấm móng Điều trị cách quãng | Liều và thời gian điều trị |
|---|---|
| Nấm móng | Một đợt điều trị là 2 viên nang (200 mg), 2 lần/ngày trong một tuần. Dùng 2 đợt điều trị cho nhiễm nấm móng tay và 3 đợt điều trị cho nhiễm nấm móng chân. Các đợt điều trị luôn cách nhau 3 tuần không dùng thuốc. Đáp ứng lâm sàng sẽ được thấy rõ khi móng phát triển trở lại sau khi ngừng điều trị. |
Vị trí nhiễm nấm và lịch điều trị:
| Vị trí nhiễm nấm | Tuần 1 | Tuần 2 | Tuần 3 | Tuần 4 | Tuần 5 | Tuần 6 | Tuần 7 | Tuần 8 | Tuần 9 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Nấm móng chân có hoặc không có nấm móng tay | Đợt 1 | Những tuần không dùng itraconazole | Đợt 2 | Những tuần không dùng itraconazole | Đợt 3 | ||||
| Chỉ nấm móng tay | Đợt 1 | Những tuần không dùng itraconazole | Đợt 2 |
Nấm móng Điều trị liên tục | Liều | Thời gian điều trị |
|---|---|---|
| Nấm móng chân có hoặc không có nấm móng tay | 200 mg, 1 lần/ngày | 3 tháng |
Sự thải trừ itraconazole khỏi tổ chức da và móng chậm hơn sự thải trừ khỏi huyết tương. Đáp ứng tối ưu về lâm sàng và vi nấm đạt được 2 đến 4 tuần sau khi kết thúc điều trị nấm da và 6 đến 9 tháng sau khi kết thúc điều trị nấm móng.
Nấm toàn thân
| Chỉ định | Liều | Thời gian điều trị trung bình* | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Nhiễm Aspergillus | 200 mg, 1 lần/ngày | 2–5 tháng | Tăng liều lên 200 mg, 2 lần mỗi ngày trong trường hợp xâm lấn hoặc lan tỏa. |
| Nhiễm Candida | 100–200 mg, 1 lần/ngày | 3 tuần – 7 tháng | Tăng liều lên 200 mg, 2 lần mỗi ngày trong trường hợp xâm lấn hoặc lan tỏa. |
| Nhiễm nấm Cryptococcus ngoài màng não | 200 mg, 1 lần/ngày | 2 tháng – 1 năm | |
| Viêm màng não do Cryptococcus | 200 mg, 2 lần/ngày | 2 tháng – 1 năm | Điều trị duy trì |
| Nhiễm Histoplasma | 200 mg, 1–2 lần/ngày | 8 tháng | |
| Nhiễm Blastomyces | 100 mg, 1 lần/ngày – 200 mg, 2 lần/ngày | 6 tháng | |
| Nhiễm Sporothrix ở da và hạch bạch huyết da | 100 mg, 1 lần/ngày | 3 tháng | |
| Nhiễm Paracoccidioides brasiliensis | 100 mg, 1 lần/ngày | 6 tháng | Chưa có dữ liệu về hiệu quả của thuốc với liều này trong điều trị nhiễm Paracoccidioides brasiliensis ở bệnh nhân AIDS. |
| Nhiễm Dematiaceae | 100–200 mg, 1 lần/ngày | 6 tháng |
(*) Nên điều chỉnh thời gian điều trị theo đáp ứng lâm sàng.
Nhóm bệnh nhân đặc biệt
Trẻ em
Dữ liệu lâm sàng về việc sử dụng thuốc này trên bệnh nhi còn hạn chế. Không nên dùng thuốc này cho bệnh nhi trừ khi xác định lợi ích điều trị vượt trội nguy cơ có thể xảy ra.
Người cao tuổi
Dữ liệu lâm sàng khi sử dụng thuốc này trên người cao tuổi còn hạn chế. Chỉ nên sử dụng thuốc trên những bệnh nhân này khi xác định lợi ích điều trị vượt trội nguy cơ có thể xảy ra. Nói chung cần cân nhắc khi chọn lựa cho bệnh nhân cao tuổi tương ứng với tỷ lệ tăng cao hơn suy giảm chức năng gan, thận, tim và các bệnh đang mắc hoặc các thuốc khác đang sử dụng.
Dữ liệu về việc sử dụng itraconazole đường uống cho bệnh nhân suy gan còn hạn chế. Nên thận trọng khi sử dụng thuốc cho những bệnh nhân này.
Suy thận
Dữ liệu về việc sử dụng itraconazole đường uống cho bệnh nhân suy thận còn hạn chế. Nồng độ itraconazole có thể thấp hơn một số bệnh nhân suy thận. Nên thận trọng khi sử dụng thuốc cho những bệnh nhân này và có thể cần điều chỉnh liều.
Xử trí quá liều
Triệu chứng và dấu hiệu
Nói chung, những biến cố bất lợi được báo cáo khi quá liều phù hợp với những biến cố được báo cáo khi sử dụng itraconazole.
Điều trị
Trong trường hợp quá liều, nên áp dụng các biện pháp hỗ trợ. Có thể sử dụng than hoạt nếu như thấy thích hợp.
Không thể loại bỏ itraconazole bằng thẩm phân máu.
Không có thuốc giải độc đặc hiệu.
Quên liều
Không dùng gấp đôi liều bỏ lỡ.
Mọi thông tin chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.
Lưu ý
Chống chỉ định
Thuốc Taleva chống chỉ định trong các trường hợp sau:
- Không dùng thuốc ở những bệnh nhân đã biết quá mẫn với itraconazole hoặc với bất kì thành phần nào của thuốc.
- Các thuốc sau chống chỉ định dùng chung với itraconazole: Chống chỉ định dùng itraconazole cùng với các thuốc được chuyển hóa bởi CYP3A4 mà có thể gây kéo dài khoảng QT như astemizol, cisaprid, dofetilid, levacetylmethadol (Levomethadyl), mizolastin, pimozid, quinidin, sertindol và terfenadin. Dùng chung có thể làm gia tăng nồng độ các thuốc này trong huyết tương, mà có thể dẫn đến kéo dài khoảng QT và hiếm xảy ra xoắn đỉnh.
- Các thuốc ức chế HMG-CoA reductase được chuyển hóa bởi CYP3A4 như lovastatin và simvastatin.
- Triazolam và midazolam uống.
- Các thuốc ergot alkaloid như dihydroergotamin, ergometrin (ergonovin), ergotamin và methylergometrin (methylergonovin).
- Nisoldipin.
- Đối với các thuốc chống chỉ định khác xin xem thêm ở phần Tương tác, tương kỵ của thuốc.
- Thuốc không nên dùng cho bệnh nhân không có bằng chứng rõ ràng chức năng tâm thất phải bị suy tim sung huyết (CHF) hoặc có tiền sử bị CHF ngoại trừ trường hợp có nguy hại đến tính mạng hoặc bị nhiễm khuẩn nặng.
- Thuốc chống chỉ định cho phụ nữ có thai (ngoại trừ những trường hợp đe dọa đến tính mạng).
- Phụ nữ có khả năng mang thai đang dùng itraconazole nên thận trọng ngừa thai. Nên tiếp tục sử dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả sau khi kết thúc điều trị itraconazole cho tới kỳ kinh kế tiếp.
Thận trọng khi sử dụng
Ảnh hưởng trên tim
Trong một nghiên cứu trên những người tình nguyện khỏe mạnh sử dụng itraconazole tiêm tĩnh mạch, đã thấy có giảm phân suất tống máu thất trái thoáng qua không có triệu chứng và hồi phục trước lần truyền liều tiếp theo. Mối liên quan lâm sàng của những ảnh hưởng này với dạng bào chế đường uống chưa được biết đến.
Itraconazole cho thấy có hiệu ứng co bóp cơ tim âm và itraconazole có liên quan đến những báo cáo suy tim sung huyết. Suy tim được báo cáo thường xuyên hơn trong các báo cáo tự phát ở những bệnh nhân dùng liều tổng cộng 400 mg/ngày so với những người dùng tổng liều hàng ngày thấp hơn, vì vậy nguy cơ suy tim có thể tăng khi tổng liều itraconazole trong ngày tăng.
Không nên dùng itraconazole ở những bệnh nhân bị suy tim sung huyết hoặc có tiền sử suy tim sung huyết trừ khi lợi ích điều trị vượt trội nguy cơ. Đánh giá lợi ích/nguy cơ theo từng bệnh nhân nên cân nhắc về những yếu tố như chỉ định chính xác, chế độ liều dùng (như tổng liều hàng ngày) và các yếu tố nguy cơ có sẵn từng bệnh nhân đối với suy tim sung huyết. Những yếu tố nguy cơ này bao gồm bệnh tim, hụt thiếu máu cục bộ và bệnh van tim; bệnh phổi nặng như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, suy thận và các rối loạn phù nề khác. Nên thông báo cho bệnh nhân này các dấu hiệu và triệu chứng của suy tim sung huyết, nên thận trọng khi điều trị và nên được theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng suy tim sung huyết trong thời gian điều trị. Nên ngừng itraconazole nếu xuất hiện các dấu hiệu hoặc triệu chứng trên.
Những thuốc chẹn (ức chế) kênh calci có thể có hiệu ứng co bóp cơ tim âm nên có thể cộng hợp Với hiệu ứng của itraconazole. Thêm nữa, itraconazole có thể ức chế chuyển hóa của thuốc chẹn kênh calci. Vì vậy, cần thận trọng khi sử dụng đồng thời itraconazole và các thuốc chẹn kênh calci vì tăng nguy cơ suy tim sung huyết (CHF).
Tiềm năng tương tác thuốc
Dùng đồng thời một số thuốc chuyển biệt với itraconazole có thể dẫn đến những thay đổi hiệu quả của itraconazole và/hoặc thuốc dùng chung, đe dọa tính mạng và/hoặc đột tử.
Các thuốc bị chống chỉ định, không được khuyến cáo hoặc khuyến sử dụng thận trọng khi kết hợp với itraconazole được liệt kê trong phần Tương tác, tương kỵ của thuốc.
Nhạy cảm chéo
Có rất ít thông tin đề cập đến nhạy cảm chéo giữa itraconazole và các thuốc kháng nấm nhóm azol khác.
Cần thận trọng khi sử dụng itraconazole cho những bệnh nhân nhạy cảm với các thuốc nhóm azol khác.
Bệnh lý thần kinh
Nếu xuất hiện bệnh lý thần kinh có thể do itraconazole, nên ngừng điều trị.
Mất thính lực
Bệnh nhân sử dụng itraconazole được ghi nhận là có thể mất khả năng nghe tạm thời hay vĩnh viễn.
Một vài báo cáo này có sử dụng đồng thời với quinidin là thuốc bị chống chỉ định dùng chung.
Mất thính lực thường hồi phục khi ngừng điều trị, nhưng có thể kéo dài ở một số bệnh nhân.
Đề kháng chéo
Trong nhiễm Candida toàn thân, nếu nghi ngờ các chủng Candida đề kháng fluconazole, thì không thể cho rằng nó nhạy cảm với itraconazole, vì vậy khuyến cáo nên xét nghiệm tính nhạy cảm trước khi bắt đầu điều trị với itraconazole.
Khả năng thay thế lẫn nhau
Không khuyến cáo sử dụng thay thế giữa viên nang itraconazole và dạng dung dịch uống itraconazole.
Do nồng độ thuốc cao hơn khi dùng dạng dung dịch so với dạng viên nang có cùng liều dùng.
Ảnh hưởng trên gan
Rất hiếm trường hợp độc tính gan nghiêm trọng, kể cả suy gan cấp gây tử vong, khi dùng itraconazole. Hầu hết những trường hợp này là ở bệnh nhân có tiền sử bệnh gan, đã được điều trị cho các chỉ định nhiễm nấm toàn thân, có những bệnh lý đáng kể khác và/hoặc đã sử dụng những thuốc khác có độc tính trên gan. Một vài bệnh nhân không có yếu tố nguy cơ rõ ràng về bệnh gan.
Một vài trường hợp được quan sát thấy trong tháng điều trị đầu tiên, kể cả trong tuần điều trị đầu tiên. Nên theo dõi chức năng gan ở những bệnh nhân điều trị với itraconazole. Hướng dẫn cho bệnh nhân báo cáo ngay cho bác sĩ các dấu hiệu và triệu chứng gợi ý viêm gan như biếng ăn, buồn nôn, nôn, mệt mỏi, đau bụng hoặc nước tiểu sẫm màu. Những bệnh nhân này nên được ngừng điều trị ngay và cho làm xét nghiệm chức năng gan.
Có ít dữ liệu về việc sử dụng itraconazole đường uống ở những bệnh nhân suy gan. Cần thận trọng khi sử dụng thuốc cho những bệnh nhân này. Khuyến cáo theo dõi chức năng gan thận trọng ở những bệnh nhân suy gan. Trong thử nghiệm lâm sàng đã quan sát thấy thời gian bán thải của itraconazole kéo dài sau khi uống liều duy nhất viên nang itraconazole trên bệnh nhân xơ gan nên cần thận trọng khi quyết định bắt đầu điều trị với các thuốc chuyển hóa bởi CYP3A4.
Ở những bệnh nhân có tiền sử hoặc bất thường enzym gan hoặc bệnh gan tiến triển, hoặc những người đã bị độc tính trên gan do các thuốc khác, không nên dùng itraconazole trừ tình trạng nghiêm trọng hoặc đe dọa tính mạng mà lợi ích vượt trội nguy cơ. Nên theo dõi chức năng gan cho những bệnh nhân đã bị bất thường chức năng gan trước đó hoặc đã từng bị độc tính gan với các thuốc khác.
Giảm acid dạ dày
Sự hấp thu itraconazole từ viên nang itraconazole sẽ kém khi giảm acid dạ dày. Ở những bệnh nhân bị giảm acid dạ dày, hoặc do bệnh (như bệnh nhân bị thiếu toan dịch vị) hoặc do thuốc dùng chung (như bệnh nhân đang uống thuốc làm giảm acid dịch vị), nên uống viên nang itraconazole với đồ uống có tính acid (như nước giải khát cola). Nên theo dõi tác dụng kháng nấm và tăng liều itraconazole khi thật cần thiết.
Trẻ em
Dữ liệu lâm sàng về việc sử dụng thuốc này ở bệnh nhi còn hạn chế. Không nên dùng thuốc này cho bệnh nhi trừ khi xác định lợi ích điều trị vượt trội nguy cơ có thể xảy ra.
Người cao tuổi
Dữ liệu lâm sàng khi sử dụng thuốc này trên người cao tuổi còn hạn chế. Chỉ nên sử dụng thuốc trên những bệnh nhân này khi xác định lợi ích điều trị vượt trội nguy cơ có thể xảy ra. Nói chung cần cân nhắc khi chọn lựa cho bệnh nhân cao tuổi tương ứng với tần số cao hơn suy giảm chức năng gan, thận, tim và các bệnh đồng thời hoặc điều trị bằng thuốc khác.
Suy thận
Có ít dữ liệu về việc sử dụng itraconazole đường uống ở những bệnh nhân suy thận. Nồng độ itraconazole có thể thấp hơn một số bệnh nhân suy thận. Nên thận trọng khi sử dụng thuốc cho những bệnh nhân này và có thể cần điều chỉnh liều.
Bệnh nhân suy giảm miễn dịch
Trong vài bệnh nhân suy giảm miễn dịch (như giảm bạch cầu trung tính, AIDS hoặc bệnh nhân ghép tạng), sinh khả dụng đường uống của itraconazole có thể giảm.
Bệnh nhân nhiễm nấm toàn thân đe dọa tính mạng
Do đặc tính dược động học, không khuyến cáo sử dụng itraconazole để điều trị khởi đầu cho những bệnh nhân nhiễm nấm toàn thân đe dọa tính mạng.
Bệnh nhân AIDS
Điều trị nhiễm nấm toàn thân ở bệnh nhân AIDS như nhiễm nấm Sporothrix, Blastomyces, Histoplasma hoặc Cryptococcus (viêm màng não và ngoài màng não) và ở những bệnh nhân có nguy cơ tái phát, bác sĩ nên cân nhắc điều trị duy trì.
Xơ nang
Trên những bệnh nhân xơ nang, tính biến thiên về nồng độ điều trị của itraconazole đã được quan sát thấy với mức liều ở trạng thái ổn định của dung dịch uống itraconazole 2,5 mg/kg, 2 lần mỗi ngày. Nồng độ ở trạng thái ổn định > 250 ng/ml đã đạt được ở khoảng 50% bệnh nhân trên 16 tuổi, nhưng không đạt được ở bất kỳ bệnh nhân nào dưới 16 tuổi. Nếu bệnh nhân không đáp ứng với itraconazole, nên cân nhắc chuyển qua liệu pháp điều trị thay thế khác.
Tá dược
Thuốc có chứa các hạt đường hình cầu. Bệnh nhân mắc các bệnh di truyền hiếm gặp về không dung nạp fructose, kém hấp thu glucose-galactose hoặc thiếu sucrase-isomaltase không nên dùng thuốc này.
Thời kỳ mang thai
Không được dùng itraconazole cho phụ nữ mang thai ngoại trừ những trường hợp đe dọa tính mạng mà mạng mà được cân nhắc lợi ích điều trị vượt trội nguy cơ có hại cho bào thai.
Các nghiên cứu itraconazole trên động vật cho thấy độc tính trên sinh sản.
Các thông tin về sử dụng itraconazole ở phụ nữ có thai còn hạn chế, đã có báo cáo dị tật bẩm sinh sau khi đưa thuốc ra thị trường, bao gồm những dị tật về xương, đường sinh dục tiết niệu, tim mạch, nhãn khoa cũng như các dị tật về nhiễm sắc thể và đa dị tật. Chưa xác định được mối quan hệ nhân quả với việc sử dụng itraconazole.
Dữ liệu dịch tễ học về việc sử dụng itraconazole trong 3 tháng đầu thai kỳ ở hầu hết bệnh nhân điều trị nhiễm Candida âm đạo – âm hộ trong thời gian ngắn cho thấy không có sự gia tăng nguy cơ về những dị tật so với nhóm chứng không có trường hợp quái thai nào. Đã chứng minh itraconazole qua được nhau thai ở mô hình trên chuột.
Phụ nữ trong tuổi sinh đẻ
Phụ nữ trong tuổi sinh đẻ cần sử dụng biện pháp tránh thai khi dùng itraconazole. Các phương pháp ngừa thai hiệu quả nên được tiếp tục sử dụng cho đến chu kỳ kinh nguyệt tiếp theo sau khi kết thúc điều trị itraconazole.
Thời kỳ cho con bú
Chỉ một lượng rất nhỏ itraconazole được tiết vào sữa người mẹ. Vì vậy, nên cân nhắc lợi ích điều trị itraconazole so với nguy cơ tiềm tàng ở phụ nữ đang cho con bú. Trong trường hợp nghi ngờ, bệnh nhân không được cho con bú.
Khả năng lái xe và vận hành máy móc
Không thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng trên khả năng lái xe và vận hành máy móc. Khi lái xe và vận hành máy móc, khả năng phản ứng bất lợi như chóng mặt, rối loạn thị giác và mất thính lực có thể xảy ra trong một số trường hợp nên phải lưu ý.
Tương tác thuốc
Itraconazole là một thuốc có khả năng tương tác cao. Các loại tương tác khác nhau và các khuyến cáo chung có liên quan được mô tả ở dưới đây. Ngoài ra, một bảng được cung cấp để liệt kê các ví dụ về thuốc có thể tương tác với itraconazole, được sắp xếp theo nhóm thuốc để dễ dàng tham khảo. Danh sách các ví dụ này chưa đầy đủ và do đó nên tham khảo nhãn của mỗi thuốc được dùng cùng với itraconazole để biết thêm thông tin liên quan về đường chuyển hóa, tương tác, nguy cơ tiềm ẩn và các thông tin cụ thể khi dùng đồng thời.
Itraconazole được chuyển hóa chủ yếu bởi CYP3A4. Các chất khác có chung đường chuyển hóa này hoặc làm thay đổi hoạt tính CYP3A4 có thể ảnh hưởng đến dược động học của itraconazole. Dùng đồng thời itraconazole với các chất cảm ứng CYP3A4 mạnh hoặc trung bình có thể làm giảm sinh khả dụng của itraconazole và hydroxy-itraconazole đến mức hiệu quả của itraconazole có thể bị giảm. Dùng đồng thời itraconazole với các chất ức chế CYP3A4 mạnh hoặc trung bình có thể làm tăng sinh khả dụng của itraconazole, điều này có thể làm tăng hoặc kéo dài tác dụng dược lý của itraconazole.
Itraconazole và chất chuyển hóa chính của nó, hydroxy-itraconazole là các chất ức chế CYP3A4 mạnh. Itraconazole là một chất ức chế vận chuyển thuộc họ P-glycoprotein và protein ức chế ung thư vú (BCRP). Itraconazole có thể ức chế chuyển hóa của các thuốc được chuyển hóa bởi CYP3A4 và có thể ức chế vận chuyển thuốc bởi P-glycoprotein và/hoặc BCRP, điều này có thể dẫn đến tăng nồng độ trong huyết tương của các thuốc này và/hoặc các chất chuyển hóa có hoạt tính của các thuốc này khi chúng được dùng cùng với itraconazole. Sự tăng nồng độ trong huyết tương này có thể kéo dài hoặc kéo dài tác dụng điều trị và không mong muốn của các thuốc này. Đối với một số thuốc, dùng cùng với itraconazole có thể dẫn đến giảm nồng độ trong huyết tương của thuốc hoặc các chất chuyển hóa có hoạt tính của thuốc. Điều này có thể làm giảm hiệu quả của thuốc.
Sau khi ngừng điều trị với itraconazole, các nồng độ thuốc trong huyết tương giảm dưới giới hạn có thể phát hiện được trong 7 đến 14 ngày, phụ thuộc vào liều và thời gian điều trị. Trên các bệnh nhân xơ gan hoặc các đối tượng dùng các thuốc ức chế CYP3A4, nồng độ trong huyết tương giảm chậm hơn. Điều này đặc biệt quan trọng khi xem xét bắt đầu điều trị với các thuốc mà chuyển hóa chậm bởi ảnh hưởng bởi itraconazole.
Áp dụng các khuyến cáo chung sau đây, trừ khi có khuyến cáo khác trong bảng:
“Chống chỉ định”: Loại trừ hoặc không được dùng chung với itraconazole trong mọi trường hợp điều này áp dụng cho:
- Các cơ chất của CYP3A4 mà có nồng độ trong huyết tương bị tăng có thể làm tăng hoặc kéo dài tác dụng điều trị và/hoặc tác dụng không mong muốn đến mức có thể xảy ra các trường hợp nghiêm trọng.
- “Không khuyến cáo”: Nên tránh sử dụng thuốc, trừ khi lợi ích vượt trội khả năng gia tăng nguy cơ.
Nếu không thể tránh việc dùng đồng thời, khuyến cáo theo dõi lâm sàng và đường như cần thiết, điều chỉnh liều itraconazole và/hoặc các thuốc dùng đồng thời. Khi có điều kiện thích hợp, khuyến cáo nên đo nồng độ trong huyết tương. Điều này áp dụng cho:
- Thuốc gây giảm acid dạ dày (thích hợp với viên nang itraconazole).
- Chất gây cảm ứng CYP3A4 mạnh và trung bình: Không khuyến cáo từ 2 tuần trước và trong quá trình điều trị với itraconazole.
- Các cơ chất của CYP3A4/P-gp/BCRP mà có nồng độ bị tăng hoặc giảm trong huyết tương dẫn đến nguy cơ quan trọng: Không khuyến cáo có trong và sau 2 tuần điều trị với itraconazole.
“Sử dụng thận trọng”: Khuyến cáo theo dõi cẩn thận khi dùng thuốc đồng thời với itraconazole. Khi dùng chung, các bệnh nhân được khuyến cáo theo dõi chặt chẽ và dừng liều là cần thiết điều chỉnh liều itraconazole và/hoặc các thuốc dùng phối hợp. Khi thích hợp, khuyến cáo đo nồng độ trong huyết tương. Điều này áp dụng cho:
- Chất ức chế CYP3A4 mạnh và trung bình.
- Các cơ chất của CYP3A4/P-gp/BCRP mà có nồng độ bị tăng hoặc giảm trong huyết tương dẫn đến nguy cơ quan trọng làm sàng.
Tham khảo thêm các bảng ví dụ về các thuốc tương tác được liệt kê trong tờ hướng dẫn sử dụng. Các thuốc được liệt kê trong bảng này dựa trên hoặc các nghiên cứu tương tác thuốc hoặc các báo cáo, hoặc các tương tác tiềm tàng dựa trên cơ chế của loại tương tác.
Bảo quản
Nơi nhiệt độ không quá 30°C, tránh ẩm.
Chi tiết
- Số đăng ký
- 893110218924
- Quy cách
- Hộp 3 Vỉ x 10 Viên
- Dạng bào chế
- Viên nang cứng
- Nhà sản xuất
- CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM RELIV
- Nước sản xuất
- Việt Nam
- Phân loại
- Thuốc kê đơn
- Thương hiệu
- Reliv
- Danh mục
- Thuốc kháng nấm
Luôn đọc nhãn và tờ hướng dẫn. Nếu triệu chứng kéo dài hoặc bạn đang dùng thuốc khác, hỏi dược sĩ trước khi dùng.









